Bí mật lớn nhất trong đầu tư mạo hiểm

0
243

Các quỹ đầu tư mạo hiểm luôn muốn tìm kiếm, đầu tư và có lợi nhuận từ những startup tiềm năng ở giai đoạn đầu. Họ gọi vốn từ các quỹ tài chính chính thống (institutional), từ những cá nhân giàu có (angels), và đầu tư vào những công ty mới thành lập mà họ tin rằng sẽ có triển vọng phát triển rất nhanh. Nếu họ lựa chọn đúng, họ sẽ được lấy một phần chênh lệch từ những thương vụ đầu tư thành công (thông thường khoảng 20%).
Một quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ kiếm được tiền nếu các công ty trong porfolio ngày càng có giá trị hơn, và hoặc sẽ IPO, hoặc sẽ được mua lại bởi một công ty khác (exit). Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường cần khoảng ít nhất 10 năm để gây dựng vì các startups cũng cần rất nhiều thời gian để có thể tăng trưởng, thành công và exit.
Nhưng trên thực tế, hầu hết các startups không thể IPO hoặc được mua lại. Hầu hết startup sẽ thất bại, thường rất nhanh sau khi ra đời. Chính vì “sự thất bại nhanh chóng này”, các quỹ đầu tư mạo hiểm thường xuyên bị mất tiền đầu tư giai đoạn đầu rất nhanh. Nhưng bỏ qua sự thất bại nhanh chóng này, hầu hết các quỹ đều kỳ vọng rằng giá trị của quỹ sẽ tăng rất nhanh trong các năm tiếp theo, đạt được điểm hòa vốn và có lợi nhuận, khi một số ít các công ty còn sống sót sẽ thành công và đạt được “tăng trưởng đặt biệt” theo cấp số nhân (exponential growth).

Câu hỏi quan trọng nhất là khi nào điều này sẽ diễn ra. Với hầu hết các quỹ, câu trả lời là “không bao giờ” – hầu hết các Startups đều thất bại và hầu hết các quỹ cũng sẽ thất bại theo. Tất cả các nhà đầu tư đều biết rằng nhiệm vụ của họ là làm sao phải tìm bằng được các công ty có tiềm năng thực sự. Tuy nhiên, ngay cả các nhà đầu tư dày dạn kinh nghiệm cũng không thực sự có một cái nhìn đúng đắn và sâu sắc về việc này. Họ biết rằng mỗi startups đều khác nhau, nhưng họ lại không coi trọng sự khác biệt này ảnh hưởng lớn lao đến thế nào.

Sai lầm chung của các nhà đầu tư mạo hiểm nằm ở việc họ tin rằng giá trị thu được của việc đầu tư (venture return) là một dạng phân phối chuẩn (normal distribution), hoặc có thể hiểu đơn giản là: Hầu hết các công ty “không tốt” sẽ nhanh chóng thất bại, một số công ty “tạm được” sẽ sống sót nhưng không phát triển đột biến, và một số công ty tốt sẽ mang lại gấp đôi đến gấp bốn lần giá trị đầu tư. Với cách tư duy đơn giản này, các nhà đầu tư sẽ lựa chọn một phương án hợp lý là đa dạng hóa các công ty trong thật nhiều lĩnh vực (diversified portfolio), kỳ vọng rằng ba loại công ty được “trung hòa” và giảm thiểu các rủi ro vĩ mô cho toàn quỹ.

Nhưng cách tư duy “bỏ trứng vào nhiều giỏ” như vậy thường đưa toàn bộ portfolio đến thất bại, và không tạo ra bất kỳ “công ty đặc biệt” nào. Lý do thực sự ở đây là giá trị đầu tư mạo hiểm (venture return) không tuân theo phân phối chuẩn thông thường (như trong các industry khác). Thay vào đó, nó tuân theo quy tắc hàm mũ: Một số lượng rất nhỏ các công ty sẽ vô cùng thành công và hơn tuyệt đối các công ty còn lại. Nếu cách bạn lựa chọn đầu tư là tập trung vào sự đa dạng, thay vì tập trung tối đa vào một số rất ít các công ty bạn tin rằng rất đặc biệt, bạn sẽ dễ dàng bỏ quên ngay những công ty đó.
Biểu đồ bên dưới minh họa cho quy tắc này:

The J-curve
Thực tế kết quả đầu tư của quỹ Founders Fund đã minh họa điều này một cách tuyệt đối. Facebook, thương vụ đầu tư tốt nhất trong năm 2005 của quỹ, mang lại giá trị nhiều hơn tổng giá trị của tất cả các thương vụ khác cộng lại. Palantir, thượng vụ đầu tư tốt thứ hai của chúng tôi, cũng mang lại giá trị nhiều hơn tất cả các thương vụ khác công lại (tất nhiên không tính Facebook). Điều nghe có vẻ rất không bình thường này không phải là trường hợp hiếm gặp, thực tế nó đúng tuyệt đối cho tất cả các quỹ khác của chúng tôi, không chỉ Founders Fund. Đây chính là bí mật lớn nhất của đầu tư mạo hiểm: thương vụ đầu tư thành công nhất sẽ bằng hoặc lớn hơn tổng tất cả các thương vụ khác công lại.

Điều này chỉ ra hai quy tắc khá kỳ lạ cho các quỹ đầu tư: Đầu tiên, chỉ đầu tư vào các ý tưởng có tiềm năng đặc biệt lớn, vì một thành công có thể mang lại giá trị cho toàn bộ quỹ (1 company = entire fund). Quy tắc này nghe có vẻ rất đáng sợ, vì làm như vậy thì việc lựa chọn đầu tư là rất dễ bởi hầu hết các công ty “tương đối ổn” sẽ KHÔNG THỂ phù hợp tiêu chuẩn này và bị loại bỏ ngay (mặc dù các công ty này có nhiều khả năng thành công, nhưng không thể thành công ở quy mô lớn). Hệ quả của điều này là quy tắc thứ hai – Vì quy tắc thứ nhất đã quá khắc nghiệt, sẽ chẳng còn quy tắc nào khác bạn phải quan tâm.

Giải thích thêm một chút về kết luận này của Thiel: Theo quy tắc về sự phân bổ giá trị (venture value) theo cấp số nhân của các công ty trong một portfolio, sẽ có chỉ một số cực ít công ty rất rất đặc biệt và có giá trị tương lai (future valuation) vô cùng lớn. Vì thế, hãy tập trung vào các công ty đặc biệt này thay vì mất thời gian tìm kiếm sự đa dạng. Cũng bởi vì các công ty đặc biệt sẽ buộc phải giải quyết các bài toán rất lớn trong một thị trường lớn, sẽ rất dễ nhận ra họ (tất nhiên, hầu hết sẽ vẫn fail dù có đặc biệt hay không). Nếu làm theo cách này, việc lựa chọn đầu tư sẽ rất “cố chấp & độc đoán” nhưng lại vô cùng dễ dàng.

Điều này không chỉ đúng ở Silicon Valley mà còn đúng tuyệt đối ở Việt Nam. Trong số các công ty được đầu tư bởi IDG Ventures, VNG có giá trị cao nhất và bằng hoặc thậm chí cao hơn tổng giá trị các công ty còn lại. Vị trí thứ hai là VC Corps và vẫn đúng với quy tắc này.

Hãy lấy thêm một ví dụ khác: Andreessen Horowitz (một trong 3 quỹ đầu tư lớn nhất ở Silicon Valley) đã đầu tư chỉ $250,000 vào Instagram năm 2010. Khi được Facebook mua lại chỉ hai năm sau đó với giá $1 tỉ đô la, Andreesen bỏ túi $78 triệu đô la, gấp 312 lần số tiền đầu tư ban đầu (chỉ sau hai năm). Đây là một điển hình thành công, một lần nữa khẳng định vị thế của một quỹ đầu tư hàng đầu của thung lũng Silicon. Nhưng bỏ ra đầu tư $250,000 từ một quỹ đang có sẵn $1,5 tỉ đô là một con số rất nhỏ, và Andreessen đáng ra có thể có được nhiều hơn rất nhiều con số $78M nếu họ bỏ ra đầu tư nhiều hơn (check size thông thường của Andreessen có thể từ vài triệu đến vài trăm triệu). Hoặc họ sẽ phải tìm thêm khoảng vài chục Instagram khác nữa để đầu tư tiếp – một điều rất rất khó. Đây là lý do tại sao một quỹ sẽ luôn sẵn sàng bỏ rất nhiều tiền vào các công ty đặc biệt và tìm đủ mọi cách để hỗ trợ các công ty này thành công (để có cái nhìn công bằng, Andreessen đã không thể bỏ ra đầu tư nhiều hơn cho Instagram chỉ vì họ đã đầu tư vào một công ty cạnh tranh trực tiếp khác từ trước).

Hẳn nhiên, chẳng ai biết được startups nào sẽ “thành công đặc biệt”, vì thế thậm chí các quỹ đầu tư giỏi nhất thế giới cũng cần “portfolio”. Mặc dù vậy, một portfolio nên là một danh sách của các công ty được kỳ vọng trở nên “vô cùng đặc biệt” – theo đó chỉ cần một công ty thành công sẽ giúp toàn bộ quỹ đầu tư thành công ở quy mô rất lớn. Nếu bạn chỉ nhìn đầu tư mạo hiểm từ cách nhìn của nhà đầu tư tài chính và cố gắng đa dạng hóa portfolio của mình, bạn thực sự đang chơi sổ xố. Và nếu điều này xảy ra, hãy chuẩn bị sẵn một thất bại đang chờ bạn ở phía trước. Ở Founders Fund, chúng tôi chỉ tập trung vào 5 đến 7 công đặc biệt có tiềm năng phát triển rất lớn để trở thành unicorns mà thôi.

LEAVE A REPLY