Top 15 món đặc sản ngon nổi tiếng nhất của Thái Nguyên

Thái Nguyên – mảnh đất không chỉ nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh, những câu chuyện lịch sử đi vào huyền thoại, những cảnh quan núi non hùng vĩ mê đắm lòng người mà còn là nơi mang nhiều nét văn hóa ẩm thực đa dạng hấp dẫn. Đó là sự kết tinh của tinh hoa thiên nhiên núi rừng, của văn hóa truyền thống, nét hiện đại và cả bàn tay khéo léo của con người nơi đây. Cùng mình điểm qua những món ăn đặc sản Thái Nguyên bạn nên thử nhé!

10 món đặc sản nổi tiếng của Thái Nguyên

Top 15 món đặc sản nổi tiếng Thái Nguyên nổi tiếng

1. Bánh chưng Bờ Đậu

Bánh chưng Bờ Đậu là một trong những món ngon nổi tiếng nhất của Thái Nguyên. Làng bánh chưng Bờ Đậu thuộc xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương được nhìn nhận là nơi lưu giữ món bánh mang tinh hoa nhà hàng Việt. “Bánh chưng luộc nước giếng thần, thơm ngon mùi vị có phần trời cho”, có lẽ câu ca dao này đã từ lâu trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây – một trong 5 làng làm bánh chưng nổi tiếng nhất miền Bắc.

Bánh chưng Bờ Đậu phải được làm từ gạo nếp nương thơm ngon Định Hóa, thịt lợn sạch của người dân tộc bản địa và lá dong rừng được hái tại Na Rỳ, Bắc Kạn. Với bàn tay khéo léo dày dặn kinh nghiệm lành nghề cho ra những chiếc bánh đẹp mắt. Có lẽ vì thế mà mùi vị bánh chưng Bờ Đậu không thể trộn lẫn với những loại khác. Đó là thứ đặc sản nổi tiếng quanh năm không chỉ dịp Tết mới có, đã nâng chân biết bao du khách từ mọi miền đến thưởng thức. Mùi vị của trời đất, thiên nhiên và con người giao hòa, hòa quyện và được kết tinh thành thức quà đặc sản nổi tiếng nổi tiếng của mảnh đất nền Thái Nguyên – bánh chưng Bờ Đậu.

Bánh chưng Bờ Đậu thơm ngon nổi tiếng Bánh chưng Bờ Đậu thơm ngon nổi tiếng

Thức quà đặc sản của Thái Nguyên Thức quà đặc sản nổi tiếng của Thái Nguyên

2. Bánh Cooc Mò

Thái Nguyên không chỉ là vùng đất nhiều danh thắng, di tích lịch sử lịch sử vẻ vang, mà còn là một nơi có nhiều đặc sản nổi tiếng nổi tiếng. Trong các món bánh của người Tày ở Thái Nguyên, bánh cooc mò là món ăn bình dị nhưng quyến rũ lạ lùng bởi mùi vị rất đặc trưng riêng biệt. Để đã dành những chiếc cooc mò vừa dẻo, thơm lại đẹp mắt, ngoài việc chọn nguyên liệu, lá gói thì khâu làm bánh yên cầu phải một sự tinh tế, khéo léo. Bánh được làm từ loại gạo nếp thơm, hạt nào hạt nấy căng mẩy, đều tăm tắp. Nước làm bánh cũng phải là thứ nước suối, trong và ngọt.

Bánh thường được gói bằng lá ỏng lấy trong rừng, hoặc lá mai. Sau khoản thời gian lấy lá về, cắt cuống và đầu lá, lá dài khoảng tầm 30 – 35 cm rửa sạch rồi luộc qua cho mềm, dễ dàng và đơn giản gói. Khi gói đặt hai lá gối lên nhau, hai tay cầm hai đầu lá vắt chéo vào nhau tạo thành hình chiếc phễu ngửa, dùng chén nhỏ múc gạo đổ vào cho đầy đến miệng lá. Khi gói, mỗi chiếc bánh khoảng tầm 1,5 chén gạo như chén uống nước. Một tay giữ phần dưới để khỏi tuột gạo, một tay túm hai đầu lá chụm vào nhau gập xuống cho kín gạo, rồi bẻ lá sang một bên. Sau đó, dùng dây nứa hoặc lạt chẻ nhỏ buộc lại. Bánh có 4 góc, ba góc nhọn và một góc tù. Gói xong, cho bánh vào nồi luộc khoảng tầm 4 giờ đồng hồ đeo tay rồi vớt bánh ra để nguội.

Người Tày làm bánh cooc mò quanh năm và bánh được bày bán tại những chợ phiên. Chỉ với 20.000 đồng, du khách đã có trên tay chùm bánh cooc mò thơm nồng, quyến rũ. Bánh cooc mò dân dã, nhưng ẩn sau đó là biểu trưng sức mạnh mẽ của tình đoàn kết, luôn sát cánh bên nhau, là ước nguyện về một năm mới tết đến bội thu, sung túc của đồng bào dân tộc bản địa vùng cao.

Chiếc bánh cooc mò có hình dáng độc đáo Chiếc bánh cooc mò có hình dáng độc đáo

Những chiếc bánh thơm ngon sau khi luộc Những chiếc bánh thơm ngon sau thời điểm luộc

3. Cơm lam Định Hóa

Đến với Định Hóa, du khách không chỉ được tìm về những sự kiện lịch sử vẻ vang trọng đại của dân tộc bản địa mà còn được đắm mình trong các tiệc tùng, lễ hội độc đáo của đồng bào dân tộc bản địa thiểu số, được thưởng thức các sản vật địa phương quyến rũ. Cơm lam là một trong những món ăn giản dị của đồng bào dân tộc bản địa thiểu số Định Hóa nhưng có sức hấp dẫn lạ lùng bởi sự giao hòa của nước của lửa và những ống nứa non. Cơm lam là một món ăn giản dị của người dân Định Hóa, giản dị bởi vì nó gắn với những con suối nơi đầu nguồn và nương lúa bên sườn đồi, những vạt rừng tre nứa xanh ngút của đất ATK một thủa nhưng khiến du khách khó quên nếu có dịp thưởng thức.

Muốn có cơm lam ngon, đầu tiên phải có loại nếp ngon, ấy là thứ nếp cái hoa vàng trồng trên nương, thường niên thu hoạch vào mức tháng 9, tháng 10. Thứ nếp mười hạt như cả mười, tròn căng đem nhặt hết sạn, ngâm qua nước ấm. Dụng cụ để làm là ống nứa hoặc ống tre non, còn tươi để khi nấu cơm lam, chỉ cháy được ở phần ngoài và nước ngọt của cây ngấm vào gạo. Loại nứa hoặc tre này mỗi cây chỉ chặt được từ ba đến bốn ống, mỗi ống dài độ 30 cm… Người Định Hóa làm cơm lam bằng phương pháp cho gạo nếp đã ngâm vào ống nứa, cứ ba phần gạo, hai phần nước, chừa lại khoảng tầm 5 phân gần miệng ống (để khi gạo nở sẽ kín đầy cả ống) rồi nút lại bằng thứ lá chuối non chặt về đem hơ qua lửa.

Đốt lên một đống lửa, chờ thật đượm, sau đó đặt lên trên một chiếc kiềng và xếp các ống nứa trên đó. Khi đưa ống lam vào nướng trên căn bếp, vỏ nứa còn xanh mướt, khi cơm lam chín, vỏ nứa đã và đang chuyển mầu. Đống lửa to hay nhỏ sẽ làm thời gian làm cơm lam chín nhanh hay chậm, dưới bàn tay khéo léo của những người dân phụ nữ, ống cơm lam được xoay trở đều, hạt cơm bên trong sẽ hơn đều hơn. Khi cơm chín, mùi thơm quyến rũ tỏa ra ngào ngạt. Trong cơm lam có mùi vị của đất trời hòa quyện, có vị dịu dàng của nứa non, tre non, mùi của sương sớm đọng trên lá chuối, và thấp thoáng bóng vía căn bếp lửa bập bùng trong những ngày đông… Róc hết lớp vỏ nứa bị cháy, cắt ống cơm lam thành từng khoanh, bày ra đĩa, khoanh cơm mịn màng như khúc giò, mùi thơm mời gọi khách phương xa nếm thử. Cơm nếp lam có thể để được cả tuần mà không bị thiu hay vữa. Cơm lam ăn với muối vừng vừa dân dã vừa mộc mạc, vừa đậm đà khó quên.

Xem Thêm  Tổng hợp 4 Homestay ở Y Tý giá rẻ ở lào cai

Cơm lam - món ngon số 1 Thái Nguyên Cơm lam – món ngon số 1 Thái Nguyên

Cơm lam Thái Nguyên Cơm lam Thái Nguyên

4. Tương nếp Úc Kỳ

Nghề làm tương ở xã Úc Kỳ không rõ chính xác có từ bao giờ, chỉ biết từ lâu, nhà nào thì cũng biết làm tương và đều sở hữu ít nhất 1 chum tương để ăn trong năm và làm quà tặng biếu khách đến chơi. Theo thời gian, nghề làm tương nếp đã trở thành nghề truyền thống của người dân địa phương và là thứ nhà hàng đặc sản nổi tiếng đang dần vươn xa ra các thị trường trong và ngoài tỉnh. Ai một lần đến với xã Úc Kỳ đều không thể bỏ qua cơ hội nếm thử vị ngọt đậm đà thơm lừng của tương nếp. Món đặc sản nổi tiếng này được làm từ hạt lúa nếp Thầu dầu, một trong những điều tạo nên đặc trưng khác với những vùng làm tương nếp khác.

Tương nếp được nông dân chế biến có mùi vị đặc trưng, có màu vàng óng của nước tương, mềm và nhuyễn. Tương nếp ở đây được làm từ 3 nguyên liệu đó là gạo nếp, đỗ tương và muối trắng. Cũng giống như tương của một số vùng miền khác được chế biến từ gạo nếp, đỗ tương và muối, song tương nếp Úc Kỳ lại mang mùi vị riêng bởi thứ gạo nếp mà người dân địa phương sử dụng là nếp Thầu dầu, một loại nếp đặc biệt quan trọng hiện được trồng ở hai xã Úc Kỳ và Xuân Phương, huyện Phú Bình, Thái Nguyên. Làmtương nếp Úc Kỳ phải rất công phu tỉ mỉ, đồng thời cũng phải là người dân có kinh nghiệm thì mới có thể làm được tương ngon. Không chỉ có nguyên liệu chuẩn bị sẵn sàng, bí quyết truyền thống, trong mỗi hũ tương Úc Kỳ còn mang theo cả tâm tư, tình cảm của người làm tương, có như vậy mới làm ra được hũ tương ngon.

Gạo nếp Thầu dầu được lựa chọn kỹ lưỡng, đó là những hạt gạo được phơi đủ nắng, không gãy, nát và có mùi thơm của gạo mới để chế trở thành tương. Gạo nếp Thầu dầu được nấu thành cơm sao cho chín đều và không bị khô, sau đó trải ra nia sạch phơi, quần đảo đều qua 3 ngày rồi lấy lá ngái đậy lên trên để ủ, đến khi cơm lên mốc có màu vàng hoa cau là được. Đến với Úc Kỳ bất kể mùa nào trong năm, các gia đình đều sở hữu chum tương nếp thơm nồng.

Tương nếp không thể thiếu trong đời sống của mỗi gia đình ở Úc Kỳ Tương nếp không thể thiếu trong đời sống của mỗi gia đình ở Úc Kỳ

Từng vại tương nếp thơm ngon đặc biệt Từng vại tương nếp thơm ngon đặc biệt quan trọng

lien-he-dat-quang-cao

5. Bánh ngải

Đây là món bánh truyền thống có từ lâu lăm của người dân tộc bản địa Tày. Thường niên cứ vào mỗi dịp lễ tết đặc biệt quan trọng, người Tày thường làm món bánh này để cúng bái tổ tiên. Món ăn này đã được truyền từ rất nhiều thế hệ khác nhau. Cho tới tận ngày này, món bánh ngon này vẫn luôn là niềm tự hào vô bờ bến của người Tày trên mảnh đất nền Thái Nguyên này. Nếu như bạn thường xuyên ăn ngải cứu chắc chắn các bạn sẽ biết tới những công dụng thần kỳ trong việc chữa bệnh của loại cây này. Bởi vậy, ngải cứu được xem là một loại dược phẩm tốt cho sức khỏe. Chính vì thế, người dân nơi đây đã tạo nên sự món bánh ngải Thái Nguyênthơm ngon nức tiếng đến như vậy. Dưới bàn tay tinh tế của người Tày, những chiếc bánh ngải xanh mướt một màu ra đời trông thật bắt mắt và cuốn hút.

Do đó, trong số các món ăn ngon đặc sản nổi tiếng của người Tày, món bánh ngải vẫn là một trong những món ăn đặc sản nổi tiếng nổi tiếng được nhiều người biết tới nhất. Món bánh này thoạt nhìn sẽ thấy hơi giống món bánh dày nhưng nó lại sở hữu màu xanh rất đặc trưng. Về hình thù thì nó giống hệt như bánh dày. Bánh ngải cứu thường được làm vào mỗi dịp tết Thanh minh hay dịp rằm tháng 7. Do vậy, nếu như khách hàng đi du lịch Thái Nguyên vào dịp này thì nhất định sẽ tiến hành thưởng thức món bánh ngon độc đáo này của người Tày. Tuy là món bánh dân dã nhưng vào những dịp quan trọng, người Tày thường làm bánh và dâng lên tổ tiên như muốn thể hiện sự tôn kính, hàm ơn.

Những chiếc bánh ngải đặc trưng của người Tày Những chiếc bánh ngải đặc trưng của người Tày

Bánh ngải dẻo thơm ngọt thanh Bánh ngải dẻo thơm ngọt thanh

6. Tôm cuốn Thừa Lâm

Tôm cuốn được nghe biết là món ăn lâu lăm, độc đáo của người dân thôn Thù Lâm, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Với những nguyên liệu đơn giản, thế nhưng sức hấp dẫn của món ăn này sẽ không chỉ được người dân địa phương công nhận mà còn được tổ chức kỷ lục Việt Nam bình chọn là một trong 100 món ăn đặc sản nổi tiếng tiêu biểu của toàn quốc.

Để làm món tôm cuốn, phải có những nguyên liệu tôm tươi nhặt rửa sạch rồi xâu vào que tăm để đến khi rán tôm không bị cong. Trứng gà rán, giò nạc và thịt mỡ lợn luộc rồi thái chỉ dài chừng 5 – 6 cm. Củ hành chần qua nước sôi rồi kẹp cùng con tôm rán, ít giò nạc, trứng rán, thịt mỡ luộc và dùng hành cuộn lại. Khi ăn có thể chấm cùng nước mắm chanh tỏi ớt… Khi ăn các bạn sẽ cảm thấy thích thú với vị thơm giòn từ tôm chiên, vị thanh từ các loại rau thơm, vị béo từ thịt giò, trứng rán… Đặc biệt quan trọng, món ăn này rất thích hợp trong những ngày lễ Tết, chống ngán rất tốt.

Đến Thái Nguyên nhất định phải thử tôm cuốn Thừa Lâm Đến Thái Nguyên nhất định phải thử tôm cuốn Thừa Lâm

Tôm cuốn chấm cùng nước chấm đậm đà Tôm cuốn chấm cùng nước chấm đậm đà

7. Trám đen Hà Châu, Thái Nguyên

Cây trám đen được trồng ở Hà Châu từ hàng trăm năm trước. Đến nay, nhiều cây trám cổ thụ ấy vẫn còn và tỏa bóng mát sum suê. Trám đen là cây thân gỗ, ra hoa vào tháng hai, quả chín vào tháng bảy âm lịch thường niên. Nhưng mùa trám có thể nối dài đến hết tháng chín do trám không chín cùng lúc mà cây chín trước, cây chín sau. Quả trám hình thoi, khi chín có màu đen, cùi trám vàng, nhân bên trong hạt trắng ngần.

Trám đen có thể được chế biến là trám om và trám nấu. Trám om chấm tương, ăn kèm với thịt ba chỉ luộc thì rất tuyệt. Trám nấu được om chín và đổ vào vại ngâm ăn dần. Nếu có dịp đến đây, chắc chắn bạn sẽ tiến hành những người dân dân thân thiện thiết đãi món đặc sản nổi tiếng này. Ngày này, trám giúp người dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu trên chính đồng đất quê nhà. Trám không kén đất nhưng có lẽ đất đai phì nhiêu màu mỡ ven sông Cầu đã tạo nên vị béo bùi, mùi thơm và lớp thịt dày, chặt cho quả trám Hà Châu, khiến nó trở thành thứ đặc sản nổi tiếng mà tư thương khắp miền tìm mua rồi đưa nó vượt khỏi mảnh đất nền này để tạo nên sự những bữa cơm dân dã nhưng nhiều dư vị của biết bao gia đình.

Quả trám đen Hà Châu Quả trám đen Hà Châu

Trám đen được ngâm tương Trám đen được ngâm tương

8. Đậu phụ Bình Long

Giờ đây, mỗi lần nghe tên xã Bình Long, huyện Võ Nhai thì không có ai không biết nghề làm đậu phụ thơm ngon nổi tiếng. Làm đậu phụ cũng cần phải có những quy trình tiến độ hết sức khéo léo, tỉ mỉ và cả sự lành nghề thì mới có thể đã dành những mẻ đậu ngon hấp dẫn cả vị giác và thị giác. Tuy nhiên làng đậu Bình Long có những bí quyết làm đậu riêng mà người ngoài khó biết được. Nguyên liệu chính để làm đậu phụ đó là hạt đậu tương. Những hạt đậu được trồng tại đất Bình Long này tròn hạt vàng óng và đều. Trong những khâu làm đậu, thì khâu hâm nóng nước đậu đã qua lọc và pha nước chua. Nước chua cho vào nước đậu phải là một tỉ lệ hoàn hảo, nếu quá tay đậu sẽ bị cứng hơi chát và xác còn nếu ít nước chua thì đậu nhão và nát.

Xem Thêm  Top 10 Homestay ở Sóc Sơn Hà Nội khiến bạn muốn ở mãi không về

Khác với mọi địa phương, đậu được ép trong một khuôn dài và cắt thành từng bìa nhỏ. Đậu phụ Bình Long ép trong khuôn lớn, mỗi bìa đậu chừng 1 kg. Món đậu này tất cả chúng ta có thể chế trở thành nhiều kiểu khác nhau, tuy nhiên để cảm nhận rõ và giữ lại được vị cơ bản nhất của đậu Bình Long, thì tất cả chúng ta chỉ việc thưởng thức đậu trắng chấm mắm tôm. Ngon mát và dễ dàng và đơn giản thưởng thức vô cùng, miếng đậu mềm mịn thơm ngon béo ngậy tan trong miệng, nó hấp dẫn tới mức ăn mãi không thấy chán.

Đậu phụ sạch Bình Long Đậu phụ sạch Bình Long

Món ăn được chế biến từ đậu phụ Bình Long Món ăn được chế biến từ đậu phụ Bình Long

9. Nem chua Đại Từ

Rất khác với những loại nem chua khác có thể bóc ra là ăn được ngay, nem chua Đại Từ cần có một thao tác nhỏ nữa là nướng bằng than củi hoặc lăn qua chảo mới có thể ăn được. Với thành phần gồm có thịt nạc mông, tỏi, rượu, hạt tiêu, thính và lá ổi, mỗi chiếc nem được gói cẩn thận bằng lá chuối và có thể được đến vài ngày. Để đã dành những chiếc nem chất lượng sản phẩm, người ta chỉ dùng thịt ở hai quả mông của lợn. Thịt được rửa sạch và lọc kỹ, thái mỏng ngang thớ rồi trộn cùng tỏi băm nhuyễn, tiêu xay, rượu trắng và thính gạo rang thơm.

Sau khoản thời gian nguyên liệu để gói nem được hoàn tất, những chiếc nem sẽ tiến hành gói cẩn thận lại bằng lá chuối và lá ổi. Lớp lá trong cùng thường được sử dụng bằng lá ổi có vị bùi, chát thích hợp, lớp ngoài là lớp áo bằng lá chuối còn tươi, nem được gói vừa phải, không cần chặt quá và kín gió để chóng lên men và để được lâu. Dùng lá chuối gói nem để tạo vẻ và có màu xanh tươi, bóng bẩy đẹp mắt. Nem để từ 3 – 4 ngày là ăn được. Khi ăn nem chua Đại Từ, người ta thường gói kèm với những loại lá sung, đinh lăng… Tùy theo sở thích, người ăn có thể chấm thêm với nước mắm chanh ớt pha tỏi hay tương ớt, tạo thêm vị thơm ngon của món nem này.

Thưởng thức nem chua Đại Từ các bạn sẽ cảm nhận được vị bùi của lá ổi hòa quyện trong cái mềm ngọt của thịt, mùi thơm lựng của mùi lá chuối nướng vùi trong than củi. Nếu không có tham dự nướng nem bằng than củi chúng ta cũng có thể bóc ra rồi cho vào nướng trong lò vi sóng, hoặc lăn qua chảo khoảng tầm một phút cho vừa chín tới là có thể dùng được. Mùi vị của nem chua Đại Từ không thể lẫn với bất kỳ loại nem chua nào khác. Nếu có dịp về Đại Từ dự hội Núi Văn – Núi Võ tại Đền thờ Lưu Nhân Chú, tỉnh Thái Nguyên bạn nhớ mua mấy quả nem chua về làm quà tặng cho gia đình và bè bạn. Ai đó đã từng một lần thưởng thức, chắc hẳn sẽ khó lòng quên được.

Nem chua Đại Từ đặc sản Thái Nguyên Nem chua Đại Từ đặc sản nổi tiếng Thái Nguyên

Nem chua sạch ăn ngon hết ý Nem chua sạch ăn ngon hết ý

10. Mỳ gạo Hùng Sơn

Mỳ gạo Hùng Sơn có độ giòn, dẻo, thơm đặc biệt quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà mỳ gạo Hùng Sơn lại được yêu thích như vậy. Người dân nơi đây làm mỳ bằng một loại gạo đặc biệt quan trọng là gạo bao thai Định Hóa. Gạo đem về nhặt sạch, vo kỹ, ngâm 8 tiếng rồi xay ra thành bột. Thứ bột dẻo dẻo, sánh sánh được lọc đi lọc lại nhiều lần rồi ủ lại qua đêm, sáng sau tráng bánh. Người ta bóc bánh đặt vào khuôn, đem phơi và cắt bánh thành những sợi mỳ đều đặn. Điều đặc biệt quan trọng của loại mỳ này là không sử dụng hàn the hay bất kỳ một chất hóa học nào. Vì vậy mỳ có độ trắng dẻo hoàn toàn tự nhiên, dậy lên mùi thơm của gạo, khi ăn vị ngọt của thứ gạo đồi cứ đọng lại nơi đầu lưỡi đem lại cảm giác khó quên.

Mỳ gạo Hùng Sơn có white color hoàn toàn tự nhiên, đượm vị thơm của gạo, khi ăn rất ngọt và thơm. Chúng ta cũng có thể đến tận nơi để sở hữ mỳ về làm quà tặng nếu có dịp ghé thăm mảnh đất nền này. Đây thực sự là món quà quê ấm áp và đầy ý nghĩa cho mọi người. Dù có từ lâu nhưng mỳ Hùng Sơn chỉ thực sự được người dân trong tỉnh nghe biết cách đó một vài năm nhờ những lần xuất hiện tại những kỳ hội chợ dưới T.Phường Thái Nguyên. Khi mới xuất hiện, thứ mỳ gạo này ít được nghe biết, tuy nhiên theo thời gian, cùng với những ưu điểm nổi trội như cái ngọt của bột bao thai, sợi mỳ dai không bị nhừ nát nên mỳ Hùng Sơn đã để lại ấn tượng với những người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.

Mỳ được làm từ gạo bao thai Định Hóa Mỳ được làm từ gạo bao thai Định Hóa

Mỳ trắng tự nhiên không hàn the hay chất hóa học Mỳ trắng tự nhiên không hàn the hay chất hóa học

11. Xôi thập cẩm

Người Dao cũng ăn gạo tẻ là lương thực chính trong các bữa tiệc thông thường, nhưng ngoài ra, mỗi gia đình đều dành ra một khoảng tầm ruộng nhất định để trồng cây nếp nương nấu xôi. Trong nhà đồng bào người Dao luôn luôn có gạo nếp để sẵn. Như một lẽ dĩ nhiên, phụ nữ Dao ai cũng biết đồ xôi. Những hạt nếp trắng trong mẩy đều sẽ tiến hành chia thành các phần khác nhau đem vo sạch rồi ngâm riêng từng phần một. Phần được trộn với quả gấc để tạo red color, phần được ngâm với cây lá liễn để tạo màu tím, phần được ngâm với lá nếp để tạo màu xanh, còn màu vàng thì trộn với quả dành dành. Có thể tùy theo từng gia đình, sẽ sở hữu những cây, lá tạo màu khác nhau. Theo năm tháng, những người dân phụ nữ Dao cũng thuần thục để ngâm sao cho màu vừa đủ tươi, hạt nếp đủ mềm.

Thế rồi, hạt nếp được nhuộm màu sẽ cho riêng vào từng chõ khác nhau (khi đối chiếu với việc nấu xôi khối lượng lớn) hoặc trong một chõ to được sử dụng lá dong hay lá chuối, ngăn thành các ô cho từng màu xôi. Nhỏ lửa, vừa nước và kiên trì thì xôi mới chín đều thơm ngon. Đây là cả một kho kinh nghiệm mà người phụ nữ Dao phải nấu qua nhiều chõ xôi mới đã dành, nếu ít nước, đồ xôi sẽ sống, mà nhiều nước thì xôi nát dưới mặt đáy bịt kín hơi, không lên được tạo ra một sản phẩm mà cụ già vẫn gọi là “trên sống dưới khê tứ bề nát bét”.

Nấu xôi trên căn bếp củi sẽ ngon đúng điệu, mỗi chõ xôi thông thường đun trong một đến 2 tiếng đồng hồ đồng hồ đeo tay. Sau đó người Dao sẽ lấy xôi ra và trộn đều các màu xôi khác nhau thành xôi thập cẩm. Có một chú ý rằng, đĩa xôi đầu tiên sẽ mang cúng gia tiên và khi tuần hương hết, mọi người trong gia đình mới thưởng thức xôi. Hạt nếp nương, hạt nếp của núi rừng đã được đồng bào khéo léo nấu lên món xôi thập cẩm thơm ngon hấp dẫn và đẹp mắt, chỉ nhìn thôi, ai cũng muốn được thưởng thức.

Xem Thêm  Top 10 địa chỉ thuê xe máy ở Hạ Long chất lượng tốt nhất 2020

Xôi thập cẩm Thái Nguyên Xôi thập cẩm Thái Nguyên

Xôi thập cẩm Thái Nguyên Xôi thập cẩm Thái Nguyên

12. Măng đắng Ngàn Me

Xét tuyển thích hợp nên ở Thái Nguyên quanh năm luôn có măng để thưởng thức. Nhưng phổ biến nhất phải nói đến việc măng đắng Ngàn Me. Thứ măng vừa nhú lên khỏi mặt đất mang lại mùi vị khó quên cho ai từng thưởng thức. Măng đắng Ngàn Me có vụ đắng giòn và ngon nhất là vào ngày xuân. Măng đắng có thể luộc chấm muối, măng đắng nấu ốc suối hoặc đem ngâm giấm đều tuyệt vời. Nếu không thích vị đắng của măng chúng ta cũng có thể ngâm qua nước muối 1 – 2 tiếng đồng hồ hoặc chẻ đôi rồi đem luộc sơ nhé.

Măng đắng Ngàn Me có vị đắng, giòn, thơm mùi tre nứa đặc trưng. Người ta có thể luộc măng chấm cùng muối ớt hay mắm tôm đều ngon. Hoặc bạn đã từng thưởng thức món măng đắng ngàn me nấu ốc suối ngon tuyệt chưa, sự hòa quện giữa măng và ốc ngon đến khó tả, ăn mãi mà không hề thấy chán. Có người lại thích món giấm măng tỏi ớt, sơ chế măng, thái lát rồi ngâm với giấm, tỏi ớt khoảng tầm mươi hôm đến nửa tháng là tất cả chúng ta có một lọ giấm thơm ngon. Có rất nhiều thực khách thích vị đắng nguyên bản của măng, nên không chế biến cầu kì, nhằm giữa lại vị đặc trưng nhất. Tuy nhiên, nếu không ăn được vị đắng nhiều, chúng ta cũng có thể thái măng ngâm nước muối trong một – 2 tiếng đồng hồ, hoặc chẻ dọc măng và luộc qua.

Theo kinh nghiệm người dân Đồng Hỷ, măng đầu mùa bao giờ cũng ngon hơn cây măng cuối mùa, có lẽ vì mọi dưỡng chất đã dồn cho những cây đầu tiên nên tới cuối mùa năng lượng của nó đã cạn rồi. Mùa măng đó là ngày xuân, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc.

Măng đắng ngàn me Măng đắng ngàn me

Măng đắng ngàn me Măng đắng ngàn me

13. Rau bò khai

Rau bò khai còn tồn tại nhiều tên gọi khác ví như dây dương, rau nghiến, long châu sói, rau ngót leo… Rau có hình dạng như rau ngót nhưng ngọn to mềm và mập hơn. Người ta thường dùng phần ngọn và lá non rau bò khai để chế biến món ăn. Rau có mùi vị khai đặc trưng nên những lúc chế biến người ta thường vò lá cho át bớt mùi. Tuy nhiên sự ngon ngọt của rau luôn khiến người ta thèm thuồng mà quên đi mùi vị khó ngửi này.

Mùi vị của rau bò khai rất đặc biệt quan trọng. Nó không hề bị lẫn với những loại rau rừng khác, là sự việc hoà quyện của hương đất, hương rừng và sự tinh khiết của khí trời vùng núi cao. Điểm đáng kể nhất của món ăn này đó là mùi hơi… khai. Vì vậy, khi chế biến món ăn, người ta sẽ phải vò qua lá rau cho bớt mùi khai. Mặc dù vậy thì khi ăn vẫn không thể tránh khỏi được việc có chút mùi nhẹ sau thời điểm ăn. Tất cả chúng ta hoàn toàn có thể liên tưởng đến cảnh tượng sau thời điểm ăn bún đậu mắm tôm xong, thì ăn rau bò khai xong cũng tương tự, chỉ khác ở độ “mùi mẫn” khác nhau mà thôi.

Rau bò khai Rau bò khai

Rau bò khai Rau bò khai

14. Nham

Nham hay nham trám là một món ăn chế biến cầu kỳ từ quả trám và được xem như món ăn truyền thống của người Thái Nguyên. Người ta thường ăn nham vào mùa quả trám chín. Một món nham hoàn chỉnh thường gồm rất nhiều nguyên liệu. Trong số đó không thể thiếu quả trám đem ỏm tách hạt thái nhỏ. Nham thường có hai loại nham cá sống và nham cá nướng. Nham cá sống thì thái chỉ thịt cá, nham cá nướng thì cá được nướng trên than hoa. Trộn chúng lại cùng vừng, lạc, lá khế, lá nhội là có ngay món nham đầy đủ mùi vị dân dã. Nham có thể ăn kèm bánh tráng hoặc bánh đa đều rất hay.

Vào thời gian tháng bảy, tháng tám, âm lịch trám đen đã chín, “nắng tháng bảy nảy trám, nắng tháng tám rám trái hồng” và đây là lúc người Hà Châu làm món nham nhiều nhất. Nhưng muốn làm món đặc sản nổi tiếng nham mà không phải vào mùa trám phải ghi nhận dữ gìn và bảo vệ trám đen bằng phương pháp cho trám đun chín sau đó cho muối vào ngâm ngân đọng lại và để trám đến vài tháng vẫn có thể sử dụng được. Theo truyền thống,trám đen Hà Châu được trồng rải rác ở soi bãi ven sông Cầu. Soi rộng, vườn nhà rộng đâu đâu cũng thấy trám mọc, đặc biệt quan trọng là chỉ một loại trám đen. Quả trám đen hình thoi lúc non white color, lúc già chín màu xanh đen.

Mùa trám, các chủ buôn từ phương xa về Hà Châu đặt hàng mua, gia chủ chỉ việc hái trám xuống là lấy tiền. Quả trám xưa nay vẫn là loại quả được nhân dân vùng Hà Châu ven sông Cầu gìn giữ như một đặc sản nổi tiếng riêng của quê nhà. Trám om, trám kho thịt, xôi nếp trám. Đặc biệt quan trọng là nham trám đã kể trên là món ăn được nhân dân địa phương sử dụng mỗi một khi quê nhà có tiệc tùng, lễ hội, có cỗ hoặc mời khách. Xưa kia món nham trám đen đã từng được dâng cúng thành hoàng và người dân coi đó là sản vật quý, kết tinh sự tài hoa khéo léo trong chế biến món ăn của người dân địa phương.

Nham Thái Nguyên Nham Thái Nguyên

Nguyên liệu món nham Thái Nguyên Nguyên liệu món nham Thái Nguyên

15. Bánh tro

Bánh tro hay bánh nẳng là thứ bánh độc đáo của người Tày ở Thái Nguyên. Đó cũng là thứ bánh nổi tiếng ở nhiều địa phương tuy nhiên bánh tro Thái Nguyên lại sở hữu phong vị riêng biệt không lẫn vào đâu. Nếp gói bánh thường là nếp vải, nếp cái hoa vàng. Phần lá bên phía ngoài người Tày dùng lá chít. Những cái lá chít đủ dài để gói và đủ dẻo để không bị rách nát. Nước tro ngâm bánh phải lọc lấy nước trong và ngâm thời gian ngắn. Những hạt nếp sau thời điểm nấu có màu vàng nhạt, trong veo và dẻo bùi. Bánh tro Thái Nguyên ăn kèm với mật mía thì ngon không nơi nào chê.

Ngày trước bánh tro thường được làm trong lễ giết sâu bọ. Ngày này khi ghé Thái Nguyên chúng ta cũng có thể thưởng thức bánh tro vào bất kỳ mùa nào trong năm. Ở một miền quê yên bình Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên còn giữ một nét phong tục rất độc đáo: Cứ ngày rằm, ngày vào đầu tháng hay mỗi một khi nhà có cúng bái là sẽ làm món bánh tro, món bánh cổ truyền của người dân nơi đây.

Bánh tro Bánh tro

Bánh tro Bánh tro

Nếu có dịp ghé thăm Thái Nguyên, hãy thưởng thức những món ăn ngon nơi đây. Chắc chắn các bạn sẽ rất bất ngờ với mùi vị thơm ngon và sự độc đáo, ngon lạ của nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng Thái Nguyên nơi này.

 

Leave a Reply